talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 5 (cuối): Hình thức tiêm thuốc độc

02/11/2010 | 11:00 chiều | Comments Off on Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 5 (cuối): Hình thức tiêm thuốc độc

Tác giả: Nguyễn Trang Nhung

Chuyên mục: Pháp luật
Thẻ:

(Xem kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3 phần 1, kỳ 3 phần 2 & kỳ 4)

Kể từ khi được luật hóa lần đầu tại Mỹ vào năm 1977, hình thức tiêm thuốc độc về sau đã được luật hóa tại Đài Loan (1992), Trung Quốc (1996), Thái Lan (2003), Guatemala (1997), Philippines (1999), và gần đây nhất là Việt Nam (2010). Tại Đài Loan, hình thức hành quyết này tuy đã được luật hóa từ khá sớm nhưng thực tế chưa hề được áp dụng[1].

Quốc gia Luật hóa Thực hành lần đầu
Mỹ 1977 12/1982
Đài Loan 1992
Trung Quốc 1996 (có hiệu lực vào 1997) 3/1997
Guatemala 1997 2/1998
Philippines 1999 2/1999
Thái Lan 2003 12/2003
Việt Nam 2010 (có hiệu lực vào 2011)

Theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, tính đến ngày 31/7/2007, số các vụ hành quyết bằng tiêm thuốc độc tại Mỹ là 919, tại Trung Quốc là hàng trăm hoặc có thể hàng ngàn (con số cụ thể không được biết do Trung Quốc không công bố thông tin về các vụ hành quyết), tại Guatemala, Philippines và Thái Lan lần lượt là 3, 7 và 4 [2] (riêng Philippines vào năm 2006 đã bỏ hình phạt tử hình cho mọi loại tội phạm).

Hình thức tiêm thuốc độc được chọn thay thế cho các hình thức cũ như ghế điện, xử bắn, v.v… do được xem là nhân đạo hơn – cụ thể, nó được xem là dẫn đến cái chết không đau đớn. Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng cho thấy hình thức này không “êm ái” như người ta vẫn tưởng, mà có thể gây ra đau đớn khủng khiếp. Bên cạnh đó, hình thức này đặc biệt làm dấy lên các vấn đề về đạo đức.

Khi lần ngược trở lại sự ra đời của hình thức này, người ta có thể thấy ngạc nhiên trước một số thực tế về nó, chẳng hạn, cách kết hợp ba thuốc dùng để tiêm vào cơ thể tử tù đã không hề được nghiên cứu hay xem xét một cách kỹ lưỡng trước khi được luật hóa. Những thực tế này đã được chỉ ra rất rõ trong một tường trình của Human Right Watch, tổ chức quốc tế về quyền con người, với tựa đề “So long as they die”[3].

I. Lược sử của hình thức

Năm 1888, một bác sỹ người Mỹ tên là Julius Mount Bleyer đã đề nghị hình thức tiêm thuốc độc như một hình thức hành quyết nhân đạo hơn so với các hình thức hiện có. Theo Robert Bohm, giáo sư tại trường đại học Central Florida, đề nghị đã bị bác bỏ do e ngại rằng hình thức này sẽ khiến công chúng liên tưởng kim tiêm thuốc dưới da với cái chết (kim tiêm thuốc hồi đó chỉ mới xuất hiện như một dụng cụ y khoa)[4].

Năm 1977, Jay Chapman, một kiểm nghiệm viên y tế tại bang Oklahoma đã đề nghị dùng ba thuốc theo trình tự xác định để tiêm vào cơ thể tử tù. Chapman trên thực tế không có chuyên môn về dược lý hay gây mê, và ông đã không hề thực hiện bất cứ nghiên cứu nào cho phương pháp ba thuốc của mình.[5]

Trong cùng năm đó, phương pháp của Chapman đã được luật hóa tại bang Oklahoma và bang Texas. Bang Texas đã đơn thuần sao chép phương pháp từ bang Oklahoma và áp dụng lần đầu vào năm 1982. Tiếp theo, hầu hết các bang có hình phạt tử hình lúc bấy giờ đã làm theo bang Texas và đưa phương pháp vào luật.[6]

Theo nghiên cứu của Human Right Watch, không một bang nào đã tìm hiểu một cách nghiêm túc về phương pháp của Chapman hay xem xét liệu có phương pháp khác “nhân đạo hơn” phương pháp này hay không. Phương pháp của Chapman rốt cuộc đã được các bang đưa vào áp dụng mà không có sự hoài nghi về tính khoa học của nó.[7]

II. Cách thức tiến hành

Tại Mỹ, một số bang sử dụng máy tiêm thuốc độc trong khi một số bang khác thực hiện quá trình tiêm thuốc một cách thủ công để tránh sai sót do máy. Quá trình này do một đội hành quyết, thường là các nhân viên nhà tù, thực hiện. Một số bang sử dụng cùng một đội hành quyết cho tất cả các vụ hành quyết, một số bang khác giao trách nhiệm luân phiên cho một số người nhất định.[8]

Khi thực hiện, đội hành quyết ở trong một căn phòng tách biệt hoặc ở sau một tấm rèm ngăn cách họ với tử tù hoặc với nhân chứng. Trong một số vụ hành quyết, họ có thể trùm đầu để giấu danh tính. Tử tù nằm trên một chiếc giường và cơ thể bị giữ bởi các dây đai. Một ống thông với một đường truyền được chèn vào tĩnh mạch của tử tù. Sau tín hiệu của người giám sát, đội hành quyết bắt đầu tiêm thuốc vào cơ thể tử tù thông qua ống thông và đường truyền.[9]

Theo trình tự, hai hoặc ba thuốc sau đây lần lượt được tiêm: 1. Sodium thiopental (hay còn gọi là sodium pentothal): có tác dụng gây mê, 2. Pancuronium bromide (hay còn gọi là pavulon): gây tê liệt cơ và ngừng thở, 3. Potassium chloride (Kali Clorua): làm tim ngừng đập.[10]

Tổ hợp hai thuốc được dùng ở một số bang và tổ hợp ba thuốc được dùng ở một số bang khác. Trong trường hợp dùng hai thuốc, thuốc số 3, potassium chloride, không được dùng[11]. Mỗi thuốc, khi được dùng riêng rẽ với liều lượng thích hợp, đủ để dẫn đến chết[12].

Giường cho tử tù bị hành quyết bằng tiêm thuốc độc (Hình: CP)

Sodium thiopental (ST) là chất gây mê được tiêm vào cơ thể tử tù để đưa tử tù vào trạng thái không có ý thức trước khi hai thuốc khác được tiêm. Liều lượng ST sử dụng trong hành quyết thường lớn hơn 5 đến 20 lần so với liều lượng được sử dụng trong phẫu thuật. Nếu lượng thuốc được xác định đúng mức, tử tù sẽ ngừng thở và mất ý thức trong vòng một đến hai phút kể từ khi thuốc được tiêm vào tĩnh mạch nên sẽ không cảm thấy ngạt thở do tác dụng của pancuronium bromide hay đau đớn do tác dụng của potassium chloride. Tuy nhiên, các phương pháp tiến hành gây mê trong hành quyết không đảm bảo rằng tử tù được gây mê một cách nhanh chóng và hiệu quả.[13]

Pancuronium bromide (PB) là một tác chất làm tê liệt tất cả các cơ chủ động (voluntary muscle) của cơ thể, bao gồm phổi và cơ hoành. PB dẫn đến cái chết bằng cách làm ngạt thở. Tuy nhiên, nó không tác động tới ý thức hay ảnh hưởng tới cảm nhận sự đau đớn. Nếu không được gây mê đúng cách, tử tù bị tiêm PB sẽ cảm thấy đau đớn nhưng không thể biểu lộ sự đau đớn đó do PB ngăn các cử động, lời nói, hay biểu cảm trên gương mặt. Nếu tử tù vẫn có ý thức khi PB được tiêm vào, PB sẽ khiến tử tù không thể truyền dấu hiệu cho thấy sự đau đớn đến những người hành quyết hay những người làm chứng.[14]

Potassium chloride (PC) là chất có thể làm tim ngừng đập trong vòng một phút sau khi tiêm. Nếu tử tù không được gây mê đúng cách, PC có thể dẫn đến đau đớn khủng khiếp. Khi PC được tiêm vào tĩnh mạch, nó đốt cháy các ion Kali trong các sợi thần kinh cảm giác và đốt cháy các tĩnh mạch khi di chuyển đến tim. PC gây đau đớn đến nỗi Hiệp hội Thú y Mỹ (American Veterinary Medical Association – AVMA) cấm sử dụng làm tác chất gây ra cái chết êm ái ở động vật. Nó chỉ có thể được sử dụng nếu động vật đã ở mức độ mất ý thức cao.[15]

III. Một số vấn đề chủ yếu

Trong quá trình hành quyết bằng tiêm thuốc độc, có nhiều vấn đề có thể xảy ra mà chung quy lại là khả năng tử tù phải chịu sự đau đớn. Nguyên nhân chính của các sự cố thường là do đội hành quyết không đủ kỹ năng, và từ đó nảy sinh vấn đề về sự tham gia của những người có chuyên môn y tế vào các vụ hành quyết.

1. Nguy cơ gây ra đau đớn cho tử tù

Như đã nói đến ở trên về tác dụng của ba thuốc sodium thiopental (ST), pancuronium bromide (PB), và potassium chloride (PC), nếu tử tù vẫn còn ý thức sau khi được gây mê bằng ST, tử tù sẽ trải nghiệm sự đau đớn khủng khiếp do tác dụng của PB và PC.

Trong các vụ hành quyết bằng tiêm thuốc độc tại Mỹ, đội hành quyết không được đào tạo hoặc được đào tạo rất ít về gây mê; mức độ mất ý thức của tử từ hầu như không được kiểm soát trước khi PB và PC được tiêm vào nên khả năng tử tù phải chịu sự đau đớn là không nhỏ.

Để tránh rủi ro này, bang Ohio và sau đó là bang Washington đã chuyển qua phương pháp một thuốc trong đó chỉ dùng ST[16]. Tuy nhiên, phương pháp này lại có vấn đề khác, đó là nó có thể dẫn đến cái chết sau một hồi khá lâu kể từ khi tử tù được tiêm thuốc. Điều này có thể thấy qua các trường hợp tự-sát-có-trợ-giúp (assisted-suicide) của các bệnh nhân giai đoạn cuối ở bang Oregon. Những bệnh nhân này được tiêm một liều thuốc gây mê nặng do bác sỹ chỉ định. Trong số họ, có những người đã chết sau vài ngày, có những người vẫn sống và lấy lại được ý thức.[17]

2. Đội hành quyết không đủ kỹ năng

Do đội hành quyết trên thực tế thường là những người không có chuyên môn hay nền tảng về khoa học hay y tế, nên thường họ không đủ kỹ năng để thực hiện quá trình hành quyết một cách hiệu quả. Trong nhiều vụ, đội hành quyết không thể tìm ra tĩnh mạch thích hợp để tiêm thuốc vào cơ thể tử tù. Trong nhiều vụ khác, họ có thể để xảy ra các sai sót như tiêm các thuốc sai thứ tự, thuốc chảy ra ngoài thay vì vào tĩnh mạch, hướng chảy của thuốc vào cơ thể không đúng, v.v…

Sử dụng đội hành quyết gồm những người không đủ kỹ năng hiển nhiên là một điều sai về mặt đạo đức. Để đề phòng sơ suất, đội hành quyết cần được giám sát và trợ giúp khi cần bởi những người đủ kỹ năng, mà thường chỉ có thể là các nhân viên y tế. Tuy nhiên, điều này lại dẫn đến một vấn đề đạo đức khác – đạo đức ngành y.

3. Sự vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Việc các nhân viên y tế tham gia vào các vụ hành quyết đã gây nhiều tranh cãi. Nhiều tổ chức ở cấp quốc gia và quốc tế đã đưa vấn đề ra bàn thảo và đi đến đồng thuận rằng việc này vi phạm đạo đức ngành y. Trong số các tổ chức quốc tế phản đối sự tham gia của nhân viên y tế có Hiệp hội Y tế Thế giới (World Medical Association). Hiệp hội này đã phản đối mạnh mẽ sự tham gia của nhân viên y tế vào quá trình hành quyết khi vụ hành quyết bằng tiêm thuốc độc đầu tiên được lên kế hoạch vào năm 1981. Bên cạnh đó là một số tổ chức khác như Hiệp hội Tâm thần học Thế giới (World Psychiatric Association), Hội đồng Y tá Quốc tế (International Council of Nurses), Ủy ban Thường trực Bác sỹ Châu Âu (Standing Committee of European Doctors).[18]

Tuy nhiên, bất chấp các vấn đề đạo đức, tại Mỹ, 28 bang yêu cầu bác sỹ phải có mặt để thông báo về cái chết của tử tù, 9 bang cũng yêu cầu bác sỹ phải có mặt nhưng không chỉ ra lý do. Dù vậy, ai cũng có thể hiểu rằng yêu cầu về sự có mặt của nhân viên y tế trong các vụ hành quyết là để đảm bảo các vụ hành quyết diễn ra một cách trơn tru hay để xử lý các trường hợp có sự cố. Trên thực tế, một số bác sỹ đã tham gia trực tiếp vào quá trình hành quyết. Vào năm 1990, ba bác sỹ đã thực hiện vụ hành quyết đầu tiên ở bang Illinois. Nhiều năm sau đó, các bác sỹ gây mê đã thực hiện tiêm thuốc trong các vụ hành quyết ở bang Arizona. Trong suốt vụ hành quyết đầu tiên ở bang Texas, một số bác sỹ đã có mặt để theo dõi đội hành quyết và để thông báo về cái chết của tử tù.[19]

IV. Các vụ hành quyết lỗi

Có không ít các vụ hành quyết bằng tiêm thuốc độc đã diễn ra một cách tệ hại. Michael Radelet, giáo sư xã hội học và luật học, đã thu thập một danh sách 36 vụ “hành quyết lỗi” tại Mỹ mà ông định nghĩa là các vụ hành quyết ở đó tử tù chịu sự đau đớn kéo dài trong 20 phút hoặc hơn[20]. Do các bang không công khai, hoặc thậm chí không ghi lại các vụ hành quyết, danh sách này được thu thập chỉ qua các tường trình từ truyền thông. Dưới đây là một vài trường hợp trong danh sách:

Raymond Landry, bị hành quyết tại bang Texas vào ngày 13/12/1998. Hai phút sau khi thuốc được tiêm vào cơ thể Landry, ống thông bị tuột khỏi tĩnh mạch của Landry và văng ra không khí. Các nhân viên đã kéo tấm rèm ngăn cách các nhân chứng và tử tù. Đội hành quyết đã mất 14 phút để chèn lại ống thông vào tĩnh mạch. Các nhân chứng đã thuật lại rằng họ nghe thấy ít nhất một tiếng rên rỉ từ Landry phía sau tấm rèm. 24 phút sau khi được tiêm thuốc vào tĩnh mạch, và 40 phút sau khi bị buộc vào giường hành quyết, Landry được thông báo là đã chết.[21]

Stephen McCoy, bị hành quyết tại bang Texas vào ngày 24/5/1989. Cơ thể McCoy đã phản ứng mạnh đối với thuốc. Trong suốt vụ hành quyết, lồng ngực McCoy phồng lên xẹp xuống liên tục theo nhịp thở hổn hển. Bộ trưởng Bộ Tư pháp bang Texas đã thừa nhận MacCoy “có vẻ phản ứng hơi mạnh hơn” các tù nhân bị hành quyết khác” và “thuốc có thể đã được tiêm vào với liều lượng mạnh hơn và nhanh hơn.”[22]

Charles Walker, bị hành quyết tại bang Illinois vào ngày 12/9/1990. Theo Gary Sutterfield, một kỹ sư từ nhà tù bang Missouri được bang Illinois giữ lại để trợ giúp trong vụ hành quyết Walker, một chỗ thắt trong ống thông dẫn đến cánh tay tử tù đã ngưng truyền các thuốc đến cơ thể. Thêm vào đó, kim tiêm tĩnh mạch đã bị chèn sai – thay vì chỉ vào tim, kim tiêm chỉ vào các ngón tay của Walker.[23]

Jose High, bị hành quyết tại bang Geogia vào ngày 7/11/2001. Cái chết của High đã được thông báo sau 1 giờ 9 phút kể từ khi vụ hành quyết bắt đầu. Sau khi cố gắng tìm một tĩnh mạch thích hợp trong 39 phút, các kỹ thuật viên đã từ bỏ nỗ lực của họ. Cuối cùng, một kim tiêm đã bị mắc trong tay của High và một bác sỹ đã được gọi vào để chèn kim tiêm thứ hai giữa vai và cổ của High.[24]

Eddie Ernest Hartman, bị hành quyết tại bang North Carolina vào ngày 3/10/2003. Khi thuốc đang được tiêm vào cơ thể, họng của Hartman bắt đầu co giãn, cổ rung, phồng và lắc nhiều lần. Mắt của Hartman mở, cơ thể co giật và quằn quại trong suốt vụ hành quyết cho đến khi chết.[25]

Romell Broom, bị hành quyết tại bang Ohio vào ngày 15/9/2009. Sau hơn hai giờ nỗ lực tìm tĩnh mạch thích hợp để tiêm thuốc, đội hành quyết đã thất bại, dù có sự trợ giúp của Broom. Trong suốt vụ hành quyết, Broom đã biểu lộ sự đau đớn. Có lúc, Broom che mặt bằng hai tay và có vẻ thổn thức. Cuối cùng, thống đốc bang Ohio đã ra lệnh ngưng vụ hành quết và thông báo kế hoạch thực hiện lại để các bác sỹ có thể hội ý làm sao thực hiện hành quyết một cách hiệu quả. Cho đến ngày 1/10/2010, Broom vẫn chờ vụ tái hành quyết.[26]

V. Lời kết

Ra đời tại Mỹ từ thập kỷ 70, hình thức tiêm thuốc độc đã không được nghiên cứu một cách cẩn trọng trước khi được áp dụng. Hình thức này tuy được xem là nhân đạo hơn song thực tế có thể dẫn đến đau đớn ghê gớm đối với tử tù. Thật khó có thể hình dung được một người – dù là tử tù – đau đớn ra sao khi bị nghạt thở và bị đốt cháy các tĩnh mạch trong cơ thể do tác dụng của tổ hợp thuốc, nếu người đó vẫn còn ý thức sau khi được gây mê. Tính “nhân đạo” ở đây có vẻ xuất phát từ cảm giác chủ quan của những nhà lập pháp lẫn những người bình thường khi nhìn vào bề ngoài của hình thức này, hơn là xuất phát từ bản chất thực sự của nó.

Việt Nam, khi sắp áp dụng hình thức tiêm thuốc độc, cần xem xét một cách kỹ lưỡng tất cả các vấn đề liên quan. Trước khi chắc chắn về một cách thức thực hiện đảm bảo tính nhân đạo mong muốn, Việt Nam không nên thi hành bất cứ vụ hành quyết nào bằng hình thức này. Xa hơn, trước những khuyến nghị của một số nước tiến bộ trên thế giới về việc tạm ngưng và tiếp đến là bãi bỏ hình phạt tử hình, Việt Nam nên nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ về hình phạt tử hình và xem xét tính hợp lý của việc thực hiện theo những khuyến nghị ấy.

2/11/2010

© 2010 Nguyễn Trang Nhung

© 2010 talawas


[1] Execution by lethal injection: A quarter century of state poisoning

[2] Như [1]

[3] So Long as They Die: Lethal Injections in the United States

[4] A Brief History of Lethal Injection

[5] Như [3]

[6] Như [3]

[7] Như [3]

[8] How Lethal Injection Works

[9] Như [8]

[10] Như [3]

[11] Như [8]

[12] Như [3]

[13] Như [3]

[14] Như [3]

[15] Như [3]

[16] New Execution Method Is Used in Ohio; Washington state adopts Ohio’s one-drug execution method

[17] Patient survives doctor-assisted suicide attempt

[18] Như [1]

[19] Như [3]

[20] Như [3]

[21] Như [3]

[22] Như [3]

[23] Như [3]

[24] Như [3]

[25] Như [3]

[26] Some Examples of Post-Furman Botched Executions

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Nguyễn Trang Nhung – Hình phạt tử hình – Kỳ 5 (cuối): Hình thức tiêm thuốc độc”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả