Bao giá» cho đến 1984 hay Là m sao để tác phẩm có mùi nước rá»a bát?
Bao giờ cho đến 1984 là ý nghĩ xuất hiện ngay trong đầu tôi, khi đọc câu sau đây: “
Tuy vẫn cần duy trì tốt việc tổ chức sưu tầm, tập hợp bản thảo cho các bộ ‘Toàn tập’ của các tác giả lớn, nhưng khi xuất bản, chúng ta chỉ nên in số lượng hạn chế và chuyển cho các thư viện lớn lưu trữ, giúp cho việc tra cứu. Còn việc phát hành ra diện rộng phục vụ đông đảo bạn đọc phải hết sức cân nhắc, tính toán thiệt, hơn?” trong
bài báo của Phạm Khải [1] . Trước ông Phạm Khải hơn nửa thế kỉ, nhà văn G. Orwell, trong
tác phẩm 1984 [2] , đã “sáng tạo” ra một “phương pháp” làm việc hoàn hảo hơn rất nhiều. Xin được trích dẫn:
“Sau khi những hiệu chỉnh, sửa chữa cho một số báo
Times nào đó đã được thu thập đủ và kiểm tra kĩ thì số báo đó sẽ được in lại, số cũ bị hủy, tờ mới in được đưa vào lưu trữ thay cho tờ cũ. Không chỉ báo mà cả sách, tạp chí, khẩu hiệu, truyền đơn, phim ảnh, đĩa ghi âm, tranh vui; tất cả các loại hình văn học nghệ thuật và tài liệu có giá trị về chính trị hay tư tưởng đều phải cải biến như thế cả. Từng ngày, gần như từng phút, quá khứ được điều chỉnh cho phù hợp với hiện tại. Như vậy có thể chứng minh tất cả các dự đoán của Đảng đều đúng bằng giấy trắng mực đen hẳn hoi; không được để lại bất kì mẩu tin hay ý kiến nào mâu thuẫn với nhu cầu của hiện tại. Lịch sử giống như được viết trên một tấm da, có thể cạo đi và viết lại bao nhiêu lần cũng được. Sau đó có tài thánh cũng không chứng minh được đấy là tài liệu giả”.
Để làm được như thế cần: “...Có một đội quân đông đảo các thư kí có nhiệm vụ liệt kê các cuốn sách và các ấn phẩm định kì cần kiểm tra. Ngoài ra còn có những kho cực kì lớn lưu trữ các tài liệu đã được sửa chữa và những lò đốt bí mật chuyên thiêu hủy các văn bản gốc nữa. Và ở đâu đó, không ai biết ở đâu, là bộ óc, là cơ quan lãnh đạo chuyên soạn thảo đường lối nói rằng phần này của quá khứ phải được giữ, phần này phải làm giả, phần này thì xoá sổ hoàn toàn”.
Thật là tuyệt, thật là hoàn hảo. Xuân Diệu sẽ chẳng bao giờ phải cảm thấy: “
rất phiền lòng khi ‘được đọc’ bộ ‘Toàn tập’ của mình do NXB Văn học ấn hành nói trên”. Tình cảm của những người hâm mộ tác giả
Phấn thông vàng sẽ không hề suy xuyển vì họ không thể nào biết rằng chính ông đã từng viết “
một bài viết ‘chửi’ Văn Cao một cách cay nghiệt, với nhiều suy diễn, áp đặt quá đáng”. Hoài Thanh chắc cũng chẳng bao giờ phải “phiền lòng” khi “được đọc” những bộ “Toàn-tập-tân-biên” hay “Toàn-tập-thiếu”, mà có lẽ ông cũng không thể nào tưởng tượng đứa con tinh thần của mình lại có diện mạo kì quặc như vậy. “Fans” của các ông sẽ mãi mãi được hài lòng…
Nhưng khốn nỗi trên đời không chỉ có ông Xuân Diệu và những “fans” hâm mộ ông. Trên đời còn có ông Văn Cao và những người hâm mộ ông nữa. Họ sẽ trả lời sao khi có người hỏi: “Phải chăng nhạc sĩ mà các vị cho là thiên tài kia đã “hết hơi” ngay từ giữa những năm 50 của thế kỉ trước?”. Ông Phạm Khải có giúp họ trả lời được không?
Trên đời cũng không chỉ có ông Hoài Thanh. Trên đời còn có ông Xuân Sách và những câu thơ, thí dụ như:
“Thi nhân còn một chút duyên
Đã vò cho nát lại lèn cho đau”
“Thi nhân” ở đây chính là tác phẩm
Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, một tác phẩm theo thiển ý phải nằm trong hàng “top” của của những trước tác bằng tiếng Việt trong thế kỉ XX, hiện được nhiều nhà xuất bản cho in lại, cả bìa cứng lẫn bìa mềm và được bày ở những chỗ trang trọng nhất trong tất cả các nhà sách từ Bắc chí Nam.
Nếu chỉ như thế, nếu chỉ có những bộ “Toàn-tập-thiếu”, “Toàn-tập-tân-biên” như ông Phạm Khải gợi ý và các ông Nguyễn Phan Hách, Nguyễn Cừ, Nguyễn Văn Lưu
[3] … đang và sẽ làm thì chẳng hoá ra Xuân Sách là kẻ “ngậm máu phun người” à?
Ông Xuân Sách và những người hâm mộ ông nhất định không chịu nhận cái danh hiệu ấy.
Chỉ sự thật, một sự thật được trình bày trong những tài liệu gốc hồi những năm 50-60 của thế kỉ trước mới có thể giúp ta trả lời những câu hỏi đại loại như: “Hồi đó Văn Cao đã ‘hết hơi’ chưa?”, “Thế lực nào và ai đã giúp những thế lực ấy bóp chết tiếng đàn của người nhạc sĩ tài hoa có một không hai này?”, “Ông Hoài Thanh đã ‘vò’, đã ‘lèn’ tác phẩm nổi tiếng nhất của mình như thế nào?”. Song một người đọc bình thường chẳng thể nào có thời gian và công sức vào các thư viện lớn để truy tìm những tài liệu gốc ấy. Thay vào đó họ có những nhà nghiên cứu, những nhà sưu tầm, những nhà xuất bản lớn và khi muốn tra cứu, tìm hiểu về một tác giả nào đó thì chỉ cần đọc các bộ “Toàn tập” là đủ.
Dĩ nhiên là “nhân vô thập toàn”, ai mà chẳng “
biết là hành trình sáng tạo trong đời mỗi người không phải bao giờ cũng là một đường thẳng, lúc nào cũng sung mãn và các tác phẩm được in ra, bên cạnh những bài hay, kiệt tác, không phải không có những bài dở, thậm chí ngô nghê, non kém khiến tác giả phải đỏ mặt khi nhắc lại”. Đa số độc giả sẽ hiểu và sẽ cảm thông với điều đó, họ có phải là trẻ con đâu! Họ cũng sẽ cảm thông nếu tác giả “
có lúc va vấp, lầm lạc trong nhận thức được thể hiện ở bài viết này, cuốn sách nọ”. Nhưng nếu đấy không phải là sự lầm lạc mà “
bài viết đó ra đời từ sự ‘hăng tiết vịt’, háo danh" thì dĩ nhiên tác giả của nó phải trả giá. Những kẻ “
hăng tiết vị” và “
háo danh” đó dĩ nhiên không phải là chính phạm trong những vụ án chống Nguyễn Hữu Đang, Phùng Quán, Trần Dần… nhưng họ đã làm cho những tháng ngày đầy ải của những con người ngây thơ, trung thực nói trên thêm dài và cay đắng hơn. Chúng ta phải sòng phẳng, ít nhất là trong điều kiện và với những tài liệu hiện có; không thể nhân danh bất cứ thứ gì để rỏ thêm nước mắt cá sấu cho các thủ phạm trong khi lại chất chồng thêm oan khuất lên các nạn nhân của họ. Gieo nhân nào thì gặp quả nấy. “Bút sa gà chết”, không “
ai có thể kiểm soát được việc in hay không in lại bài viết đó”, xin sửa lại câu của ông Phạm Khải như thế. Người xưa dạy: “Bồ tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả” là để nói về những trường hợp như thế này chăng?
Dĩ nhiên là chẳng nhà sưu tầm nào, chẳng nhà xuất bản nào có thể nói chắc rằng “Toàn tập” của một tác giả nào đó là đã bao gồm toàn bộ trước tác của tác giả đó, thiếu sót và nhầm lẫn là đương nhiên. Nhưng những thiếu sót đó sẽ được thời gian và các nhà sưu tầm khác bổ sung. Nó khác hẳn với cách đặt vấn đề của Phạm Khải:
“Không nên vì hai chữ ‘Toàn tập’ mà sẵn sàng in tất cả, dù đó có thể là những tác phẩm độc hại, ảnh hưởng tới chế độ cũng như gây phương hại tới chính tác giả của tác phẩm đó”.
Đối với Phạm Khải và những người cùng não trạng thì nhà vua không bao giờ có thể cởi truồng dù tất cả bàn dân thiên hạ đều không nhìn thấy trên mình ông ta một mảnh vải nào, các viên thái sử cũng không được viết rằng vua đã giết người dù chính mắt mình vừa trông thấy con dao còn đầy máu tươi trên tay ông ta. Tương tự như thế, không được nói hay làm bất cứ thứ gì, kể cả việc xuất bản các bộ “Toàn tập” của những tác giả đã quá cố có thể “
ảnh hưởng tới chế độ”, dù chế độ có phi nhân đến mức nào. Thật là một phương pháp làm việc tuyệt vời để tạo ra những bài nghiên cứu, những thành quả sưu tầm có mùi của cửa hậu, của nước rửa bát hay có thể gọi nôm na là mùi của một lũ bồi bút, một lũ văn nô!
Viết như thế, sưu tầm như thế thật là phí thì giờ và phí giấy. Văn như thế thì thà không có văn, không đọc văn, cứ để tâm hồn được tự nhiên, như nhiên với cỏ cây, hoa lá lại khoái hoạt hơn!
© 2006 talawas
[1]Công an Nhân dân, 10.6.2006
[2]Tủ sách talawas, 2004
[3]Nguyễn Huệ Chi: Như vậy thì định nghĩa thế nào là “toàn tập”? Hay ông Nguyễn Văn Lưu, Giám đốc, coi toàn tập chỉ là những gì còn “ăn khách” được với hôm nay? Còn “những miếng xấu hổ” “khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào” thì thôi, đành theo ý ai đấy giấu nhẹm để người ta quên đi một thời người cầm bút phải thóa mạ nhau túi bụi “cho vừa lòng bề trên”, đúng như cha ông ta nói “tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại”? “
Trao đổi cùng Nguyễn Văn Hoàn”, talawas 07.6.2005