trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 482 bài
  1 - 20 / 482 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcThơ và Thơ Trẻ
Loạt bài: Thơ đến từ đâu
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20   21   22   23   24   25 
8.9.2006
Nguyễn Thị Hoàng Bắc
Thơ đến từ đâu
Nguyễn Đức Tùng thực hiện
 1   2 
 
Nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng Bắc



Nguyễn Đức Tùng:

thình lình
tiếng trống nghinh hôn vang lên
một hồi trống trận
đã đến giờ rước dâu
rồi sao
sơn cùng thủy tận
tôi sẽ làm gì với thằng người đàn ông ấy

nó sẽ làm gì tôi

Tôi và thằng người hình nhân ấy
tiếng trống dang tay
đối mặt nhìn nhau
so găng thật ngầu

(“Nghinh hôn” )

Thưa chị, đọc bài thơ này, tôi có ấn tượng chị là người hài hước. Vậy xin phép được hỏi một câu hỏi vui: Chị bắt đầu “so găng” với đàn ông từ bao giờ?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Câu hỏi này nên hiểu thế nào nhỉ? Và có nên liệt vào loại personal không? Nhẹ nhàng nhất, tôi hiểu yêu cũng là so găng đấy chứ. Tôi giống bà già, ưa nói chuyện xưa tích cũ: chẳng phải Khổng Minh-Chu Du đã so găng trí tuệ thật ngầu với nhau đó sao? Thế nhưng chọc cho Chu Du tức hộc máu ra mà chết rồi, Khổng Minh sau đó đã phải làm ai điếu khóc hu hu. Nếu bạn đồng ý so găng là yêu thì chuyện yêu đương rắc rối của tôi đã bắt đầu từ cái thời xa lơ xa lắc lắm, nhưng không phải với đàn ông, mà là với một thằng bé 8 tuổi khi tôi 7 tuổi! Nhớ lại, lúc đó chúng tôi cũng so găng thơ mộng chán: tối tối, tôi bị má “nhốt” trong nhà đi ngủ sớm để mai đi học thì Xoa (François - ba nó dân Tây nên các con đều có tên Tây - thí dụ anh nó là Xên, Michel, anh lớn nữa là Tôn, Antoine...,) Xoa đeo tòng teng trong cửa sổ ngó qua, tôi vô tư hơn nên ngủ thẳng một lèo... Trò chơi của chúng tôi, náo động thì chia phe đánh trận giả, nó luôn làm tướng và luôn chỉ tôi làm phó tướng, lúc nào cũng phải đứng sau lưng nó; khi chơi rồng rắn, Xoa làm đầu rắn thì nhất định bắt tôi phải đứng kế nó và ôm sát nó nữa. Khi tụi bạn đi ngủ hay đi đâu hết, nếu chỉ có mình tôi với Xoa “sổng chuồng” được thức khuya vì ba má có khách hay sao đó thì tôi bắt nó phải hộ tống tôi ra đầu hẻm đứng coi... chó lục thùng rác! Theo anh, vậy là so găng hay không so găng? Tôi chỉ nghiệm thấy “mối tình” của tôi với François lúc đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến “vô thức” tìm bạn trai của tôi sau này, khi tôi lớn! Nhưng cũng chưa... ăn thua gì, bây giờ mẹ tôi vẫn nhắc và tiếc “người tình 4 tuổi” khác của tôi! Hồi đó, gia đình tôi hồi cư từ bưng về Sài Gòn, được gia đình người bạn ba má cho đến ở chung nhà ở xóm Bàn Cờ và “người bạn trai 4 tuổi” của tôi là con ông chủ nhà. Sau này lớn lên, tôi với anh ấy gặp lại, chúng tôi nối lại cuộc tình 4 tuổi một thời gian, rồi thôi. Nghĩ lại, có lẽ lúc đó chúng tôi so găng dữ dội quá, cả hai lại trẻ con, không ai chịu nhường ai, nên... cháy võ đài!

Nguyễn Đức Tùng: Vào giây phút im lặng sâu xa nhất, được sống với chính tâm hồn mình, bài thơ nào của mình mà chị nhớ đến, hay muốn đọc cho mình nghe?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Giây phút mà anh mô tả đó là sống chứ, và khi sống thì ai mà lại ông ổng hay khe khẽ đọc thơ? Lúc tôi vượt biên đến đảo Hồng Kông, trong trại, có một anh hay làm thơ. Hễ cứ trời mưa lâm râm (ướt dầm bụi hẹ) thì chàng hay ra đứng dưới mưa ướt mèm để mần thơ. (Là tôi nghe thiên hạ trong trại kháo nhau vậy, chứ hạng người thường như tôi, thấy mưa là ôm đầu mau chạy và la hét mấy đứa con nít chớ có dầm mưa mà bịnh chết cha ở trại không có thuốc đâu nghen, chưa bao giờ được chàng này cho nghe thơ). Tôi mần thơ thì âm thầm lẻ loi và một mình lắm. Cũng có thể mặt mày lúc đó đau khổ hay hạnh phúc xấu xí quá chừng. Cũng có những đêm trong giấc ngủ, có một bài thơ mà trong mơ tôi nghĩ là rất hay nhưng mê ngủ, tôi chẳng thể giật mình thức dậy được. Sáng ra, nhớ lơ mơ, cố tái hiện ý thơ thì thấy nó rất... ẹ, thế là lại quên nó đi luôn.

Tôi vẫn nhớ một chuyện vui rất nghịch ngợm của Đỗ Kh. kể (là một chuyện thật): ông nhạc sĩ Phạm Duy sang ở chơi nhà một người bạn ở Pháp, nửa đêm về sáng lên cơn hứng âm nhạc, ổng lấy đàn ra đánh đập xèng xèng, rứa là cả nhà hết ngủ luôn. Chúng tôi còn diễn nghĩa thêm: may mà tụi nhà zăng nhà thơ khi nổi hứng thì chỉ lấy cây viết ra mà cạo cạo, cùng lắm là rên rỉ ư ử thôi, chứ gặp bọn nhạc sĩ là... đời mình tàn.

Nói vậy không có nghĩa là thơ thì không cần nhạc. Cần chứ, nhưng là một thứ nhạc khó trình diễn chung chung.

Cũng có người mê thơ mình lắm, thích ngâm ngợi như anh nói nhưng tôi thì... e thẹn. Ai đọc thơ tôi to tiếng thì tôi... độn thổ, làm gì có chuyện tôi tự đọc thơ tôi? Có lần ở trong nước, thời còn phải đi học tập chính trị ở trường, một cô giáo lên ngâm bài “Quê hương” của nhà thơ G.N với sự hiện diện của G.N. trong đám khán giả. Tôi ngồi gần trố mắt nhìn nhà thơ (chúng tôi lúc đó rất tệ, gọi G.N là Giang Mai, và tên lóng là Syphilis); lúc đó mặt nhà thơ cứ thuỗn ra trông rất khó coi, lại còn khi đỏ khi xanh như tắc kè nữa mới ghê, tôi còn nhớ rõ, những lúc xúc động (đậy) quá, ổng còn lấy tay bịt cả miệng. Tôi phát run giùm ổng...

Lúc tự thú phải là lúc một mình.

Nguyễn Đức Tùng: Mặc dù “mặt” nhà thơ có thể khi đỏ khi xanh như chị hồi tưởng, chị có đồng ý rằng về mặt thẩm mỹ , bài thơ “Quê hương” là một bài thơ hay và xúc động hay không?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Tôi hiểu là anh... bắt bẻ tôi, cho rằng vì thiên kiến với nhà thơ mà tôi đâm ra bất công với bài thơ “Quê hương” phải không? You bet. Tôi nhận lỗi này. Mea culpa. Nhưng anh tha lỗi cho, lúc đó tôi đang chán đến tận cùng bằng số vì tất cả sự đổi đời quái đản giai đoạn sau tháng 4/ 1975. Bụng dạ đâu mà nghĩ đến thẩm mỹ với nghệ thuật! Thẩm mỹ ở đâu cơ chứ khi mà người ta thúc dân ra cắm dây cho khoai lang bò lê bò lết giữa lề đường đi? Ngay giữa ngã ba ngã tư khu phố nhà tôi, bỗng đâu chình ình dựng lên một cái chòi tranh (lợp bằng lá tranh đàng hoàng chớ không phải ngoa ngữ đâu), ông công an thì đứng dưới, cầm cái dùi chỉ qua chỉ lại, trong khi đèn xanh đèn đỏ được thiết kế trước đó lại... cho tắt ngúm! Còn nghệ thuật ư? Tôi bị... lùa đi xem phim của Hãng phim Giải Phóng với cái máy quay phim kêu xè xè điếc cả óc và chiếu trên một tấm màn trắng lung lay trước gíó. Nhưng ghê nhất là cái giọng thuyết minh, một người đọc một lèo tất cả, từ lời thoại trai gái già trẻ lớn bé cho tới lời dẫn phim! Năm 2003, tôi về Việt Nam, hôm đi xem phim The Quiet American, (có cả Thận Nhiên cùng đi), tôi vẫn phải nghe thuyết minh... leo lẻo. Chuyện rùng rợn thời ấy kể mấy cho hết! Nhớ có lần thời ấy, tôi và một người bạn đang đạp xe song song nói chuyện thì hoét một cái, ông công an bắt dừng lại và... bắt chúng tôi... vòng tay nói xin lỗi ổng (sic, tôi không đùa hay bịa chuyện đâu!) vì đi song song là vi phạm luật đi đường. Tất nhiên là bạn tôi so găng với ổng, v.v và v.v...  

Nguyễn Đức Tùng: Người ta có thể tách khuynh hướng chính trị và triết học ra khỏi một văn bản và đọc nó như một văn bản thuần túy nghệ thuật được chăng?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Câu hỏi khó đấy! Đọc dưới ánh sáng này, ánh sáng nọ thì sẽ có một văn bản méo mó, đọc văn bản một mình nó thì có thể lại thấy thòi ra những ảnh hưởng chính trị và triết học, v.v... Tôi không đăng đàn lập thuyết gì đâu, đó là việc chuyên môn của các nhà nghiên cứu phê bình. Với tư cách một độc giả, tôi đọc một văn bản như-nó-đã-là với tất cả giá trị nghệ thuật và tất nhiên, những lớp áo biến ảo màu mè của chính trị và triết học. Dưới hay trên, trong hay ngoài, người đọc nhận ra hay không, ý thức hay vô thức,... cách đọc nào cũng mang tính chủ quan nhất định. Một con cá nằm trên thớt giữa chợ, mỗi ông/bà nội trợ đi chợ đều có cả hai cách đánh giá chung và riêng. Cách đánh giá chung dựa trên những tiêu chí phổ biến (cá này tươi, cá này ngon, cá này giá phải chăng) còn cách đánh giá riêng, hỡi ôi, mới thật là… ác liệt, thôi thì đủ loại tiêu chí, lý do (cá này ông xã/bà xã mình không thích, lúc nhỏ má mình vẫn nấu cá này cho ăn mỗi ngày, quê mình cá này quý hiếm lắm, lần đầu tiên mình được thưởng thức món cá này ở...)

Vậy, câu trả lời của tôi là: được, và sẽ có thể chưa đầy đủ, đồng thời: không, và coi chừng bị méo mó. Cực đoan, triệt để thường có hạn chế. Trung dung thì cù lần. Vậy, ta hoà hợp hoà giải, vừa tùy cơ ứng biến vừa đề cao cảnh giác nhé?

Nguyễn Đức Tùng: Đọc đoạn mô tả trên của chị, nhiều người có thể đoán là chị viết văn hay lắm. Thật ra, nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng Bắc, ai cũng nhớ tập truyện Long lanh hạt bụi (1988) từng chiếu sáng long lanh trên văn đàn hải ngoại nhiều năm. Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc có trước hay nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng Bắc có trước?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Cám ơn anh! Nhưng Nguyễn Đức Tùng là ai vậy, sao khi thì mềm mỏng tử tế, khi thì hỏi rất ác liệt?

Không hiểu tại sao nhiều người cũng có câu trả lời như tôi: tập tành làm vè trước rồi mới ziết zăng sau. Nói một cách đứng đắn thì thơ tôi xuất hiện trước công chúng trước văn của tôi. Ở mục “Vuờn thơ” do ông Kiên Giang phụ trách trên báo Điện Tín, vào khoảng năm 1970. Đó là một bài thơ dài nói về ba má tôi nhưng lại là một bài thơ triết lý và chính trị. Thời đó, Ban kiểm duyệt ở miền Nam cũng xoá bỏ và buộc để trắng rất nhiều dòng... Còn nhớ lõm bõm mấy câu, chẳng hạn như:

... sợ lạc hồn
vào đêm tối
con nhìn lên
vầng trán những đuờng gân
bàn tay khẳng khiu
muốn khóc khi nhìn gần
mắt xa lạ
những đường gân máu đỏ
bàn tay ấy
đôi mắt nhìn  
ngày đó
sáng lung linh bừng sức sống dị thường
bước vào đời bằng những bước mạnh
nặng tình thương
bàn tay dũng mãnh
ba nâng hồn kháng chiến...

Ít ra, đó là bài thơ đầu tiên của tôi được công bố và tôi còn được in cả ảnh lên báo. Đó cũng là bài thơ lần đầu tiên tôi cả gan chép tay như một món quà Tết để tặng ba má mình từ năm 1958 và bài thơ đó, ít ra, đã làm ba tôi mất ngủ nguyên một đêm. Thơ làm cho con gái đầu lòng của tôi sinh năm 1970 cũng công bố trên “Vườn thơ” của ông Kiên Giang:

... Ngày trôi trong cơn gió khô
Chiều nay biển sóng nhấp nhô con tàu
Lòng me tâm sự nát nhàu
Gượng cười vuốt mái tóc màu trẻ thơ
Mẹ xin làm kiếp bơ vơ
Ngồi bên con để lắng nghe giọng cười...

Còn thơ tình, ôi chao, trong những năm ở đại học, tôi làm cả tập, chép trên giấy pelure tím có ép cả bông giấy, bông ngọc lan... đàng hoàng để tặng một người tình, tới khi người tình đi lấy vợ, không hiểu sao, hắn cuỗm luôn tập thơ tôi theo luôn! Nói cho vui thế thôi, chứ có lẽ hắn thấy đấy chỉ là thứ thơ thẩn vào ra nên chắc hẳn đã quẳng vào thùng rác từ lâu rồi.

Nói chung, có bài tự nhiên nhớ lõm bõm, có bài làm rồi, không nhớ được nhiều, và nhớ một hai câu thì không thể là bài thơ!

Ra nước ngoài, bài thơ đầu tiên tôi đăng trên Làng Văn ở Canada, khoảng 1984 là bài lục bát “Qua mùa đông dọn lò sưởi”:
   
   
Nhóm chi nữa đóm lửa tàn
Dẫu trăm ngàn quạt tro than nguội rồi...

Truyện đầu tiên không phải là đầu tay đăng trên báo Văn Học do anh Nguyễn Mộng Giác điều hành là truyện “Mặt trận dài”, năm 1984, viết ở thời điểm tôi cùng các con đang sống trong trại tị nạn (trại cấm Chimawan Hồng Kông).

Viết văn, làm thơ thì cũng ngẫu hứng thôi. Trần Vũ viết truyện ngắn, truyện dài, nghiên cứu lung tung thì vẫn than với tôi, sao mà Vũ không làm thơ được. Thận Nhiên thời chỉ chuyên làm thơ có lần nhạo tôi là chị tôi hai tay cầm hai cái kiếm. Ý hắn nói tôi tham lam chăng? Nhưng kể từ khi Nhiên về Việt Nam, ngoài chuyện mần thơ, hắn cũng viết báo, viết ký loạn cả lên. Giờ thì hắn hết dám chọc tôi...

Nguyễn Đức Tùng: Tôi không tin là “người xưa” đã quẳng tập thơ của chị “vào thùng rác”. Có thể là anh ấy đang cất giấu nó ở một chỗ kín đáo nào đó chăng? Nhưng xin trở lại với câu hỏi dự định ban đầu. Tôi không thấy chị có thơ tình, vậy, gần đây, chị có viết thơ tình không?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Có chứ! Nếu không tin, anh hãy vào website www.trinhnu.com, sẽ thấy có nhiều bài thơ tình của tôi được một bạn trong nước phổ nhạc đấy. Tống Hữu Hạnh tình cờ đọc bài “Hoa & lửa” mở đầu bằng mấy câu êm ru:“Trong đêm về lặng lẽ/ Đoá quỳnh nở hoa/ Hoa đêm/ Hoa hạnh phúc mãn khai/ Ấm áp bầu trời/ Thầm lặng tôi yêu người...” đăng ở Tạp chí Thơ, có hứng phổ nhạc và qua Khế Iêm gửi tặng tôi. Nhưng cái thời ấy đã qua, về sau này, tôi tự thấy thơ tôi trần trụi, xù xì quá, không có tứ đẹp, lời đẹp để phổ nhạc được, may ra thì chỉ làm được lời cho nhạc rap!

Nguyễn Đức Tùng: Chị không làm thơ nữa, có được không?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Sao anh lại hỏi vậy nhỉ? Ở đây, không thấy ai cấm tôi làm thơ, cũng không ai bảo tôi làm thơ, và khổ nỗi cũng không ai đặt hàng thơ, nên không đặt vấn đề suy nghĩ về câu hỏi ấy.

Lúc còn trong nước, tôi thất nghiệp dài dài vì là cô giáo mất dạy, tôi lăn lóc nhiều nghề: làm rẫy, chợ trời, v.v..., vậy mà vẫn lén lút làm thơ đấy chứ. Cả hai tập thơ viết tay lén, giấu dưới lát giường, sau đó, khi vượt biên thì mất tiêu luôn. Còn nhớ mấy câu tức cảnh lúc làm rẫy như là: "cỏ lên cùng với khoai lang/ bởi tay cầm bút  đổi sang cầm cày/ buổi chiều không tiếng diều bay/ nghe loa thúc thuế vang đầy trong sân...” Lúc đó là những năm 77-78, nếu công an mà chộp được thì tôi cũng đi tù như chơi. Nhưng không viết được cho mình tự đọc như một dạng nhật ký thì đau buồn lắm, sống dở chết dở.

Trước đó, khoảng 1977, lúc còn đang dạy ở trường Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, có một cái hoạ thi ca mà tôi vẫn nhớ. Một em học sinh lớp 10 nổi hứng viết và khắc mấy câu thơ lên bàn học trong lớp:
     
 
Không muốn ngồi yên để đợi trông
Thích làm Từ Hải giữa muôn lòng.
Cộng lại những gì trong quá khứ,
Sản khoái trong lòng thoả ước mong

Anh đừng chữa lỗi chính tả chữ sảng. Tất nhiên, học sinh miền Nam thường không phát âm rõ được âm cuối sản với sảng nên viết sai là thường nhưng ý đồ của em ấy là: nếu ghép 4 từ đầu ở các câu lại sẽ thành cụm từ: không thích cộng sản. Đó là thời điểm 75-77, lũ giáo viên lưu dung (“giữ lại để dùng” - từ cán bộ lãnh đạo thời đó dùng chỉ các giáo viên nguỵ cũ còn được giữ lại làm việc ở các trường miền Nam) chúng tôi vừa dạy vừa run. Ở cái thời khủng bố trắng không giấu giếm ấy, chắc anh đoán được số phận tác giả bài thơ trên thế nào rồi. Chỉ là một phút bốc đồng thanh niên nhưng chuyện đó đã biến thành một sự việc nghiêm trọng, giống như vụ án con trai Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành thời Gia Long. Có người đã báo cáo vụ việc này và tất nhiên, em học sinh đó bị đuổi học, bị bắt và bị công an điều tra hành hung tàn bạo lắm. Tôi và một cô giáo đồng nghiệp khác (hiện giờ sống ở Canada) đã cố hết sức giúp em: hai chúng tôi đứng trước cửa lớp giờ tan học che cho một cô giáo khác lấy dao cố cạo cho hết những nét khắc sâu vào gỗ của bài thơ nhưng có người đã nhanh tay sao chép, gửi đi cho công an. Nét khắc còn lờ mờ nhưng vẫn là bằng cớ, biết làm sao! Năm 2003, lần đầu tiên tôi về lại Nha Trang tìm lại cô giáo đã cạo bàn hồi đó, mới hay cô đã mất vì ung thư lâu rồi! Sau vụ ấy, tôi cũng phải vào tù vì vượt biên bất thành và cũng không có dịp gặp lại em học sinh đó. Sau này, mỗi lần nhắc đến em và bài thơ khắc trên gỗ ấy, trong lòng chúng tôi vẫn đau nhói.

Nguyễn Đức Tùng: Nhiều người đọc, trong đó có tôi, tôn trọng và chia sẻ nỗi “đau nhói” của chị. Sau này, có lẽ tôi sẽ quên nhiều điều về thơ mà chúng ta trò chuyện hôm nay nhưng chắc tôi sẽ nhớ câu chuyện về em học sinh và cô giáo cạo bàn, chết vì ung thư. Tuy nhiên, lịch sử có phải là đã lật sang trang rồi chăng?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Không. Nếu có, tại sao vừa rồi Nguyễn Ngọc Tư lại bị các ông bà tỉnh ủy Ca Mau kiểm điểm gắt gao bởi “Cánh đồng bất tận”? Và tại sao lại lăng xê quá trời Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm sau khi đã sửa chữa một số chi tiết cho hợp thời trang? Lịch sử vẫn ù lì đấy chứ, thế nên nhà báo Bùi Tín mới đặt câu hỏi: “Đảng trả quyền tự do canh tác cho nông dân, tự do buôn bán cho tiểu thương, tự do kinh doanh cho nhà tư sản, sao không trả lại cho văn nghệ sĩ, nhà báo, trí thức quyền tự do tư duy, viết, vẽ, hát, sáng tạo, biểu diễn, trình bày, triển lãm, xuất bản, giao thiệp, kết nhóm, lập hội, phát biểu, bàn luận, phê bình...?” [1]  và nhà thơ Bùi Minh Quốc đã phải kêu lên: ”...muốn nói điều mình nghĩ, mình thấy, mình biết cũng không báo nào đăng cho, cỡ như cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn mà cũng không được đăng trọn vẹn.” [2] Tôi đọc trên talawas những Tôi bị bắt của Trần Vàng Sao, Tôi bày tỏ của Tiêu Dao Bảo Cự, Tự bạch của Hà Văn Thuỳ và thậm chí cả Khúc khuỷu đường đời của Nguyễn Tài mà tức (tối) cảnh sinh (sản) tình viết mấy câu này:

mười thương (đau)

thương thứ nhất: tôi đã trốn ra khỏi nước
thương thứ hai: cộng sản Việt sẽ sập tiệm đến nơi
thương thứ ba: sao mà lắm người oan ức thế
thương thứ bốn: một số không đông nhưng quyết tâm a dua cũng chặn được bánh xe lịch sử hử
thương năm: đất nước tôi cứ nghèo, cứ khổ, cứ bủn xỉn, cứ phồn vinh giả tạo
thương sáu: cứ mãi ở gần tên Trung Quốc khổ lòng
thứ bảy, thứ tám, thứ chín: tôi yêu đất nước tôi
thương mười: từ khi talawas ra đời

(7/06)

Nguyễn Đức Tùng: Chị thường đọc nhà thơ nào?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Tôi đọc tất cả những gì tôi có dịp đọc. Tiếng Anh không giỏi lắm nên đọc truyện nhiều hơn thơ. Đọc thơ mà chỉ lấy ý và không thấy rõ đưọc tài sử dụng ngôn ngữ ảo diệu và cái giọng của nhà thơ thì tự mình kiểm điểm là thiếu sót lắm. Tiếng Pháp ư? Rơi rụng gần hết rồi, nhưng lâu lâu cũng đọc Jacques Prévert để gọi là gợi lại giấc mơ xưa thời trung học, thế thôi.

Cũng không muốn nhắc người này mà bỏ quên người kia. Mỗi người đem đến cho tôi một cảm xúc khác nhau, à, tôi đọc thơ Việt để tìm cảm xúc, chớ không nhằm để học hỏi gì. Tất nhiên, bắt đầu đọc từ những người mình quen, ngoài đời hay trong văn chương, lại cũng có khi tự khám phá được một cái gì đó đáng đọc hay nghe thiên hạ bàn tán về một tác giả hiện tượng nào đấy trong hay ngoài nước thì tìm đọc xem sao. Thơ, truyện (ngắn và dài), tôi đều đọc. Để học hỏi, tôi đọc báo, đọc sách phê bình, lý luận văn học và chính trị và hầm bà lằng, không tự hạn chế làm chi.

Tôi thấy có một điều hơi lạ ở tôi khi đọc. Chẳng hạn, đọc thơ Nguyễn Quốc Chánh, nếu đọc từng bài lẻ tìm trên internet hay trên báo trời, báo đất thì cảm thấy một cái gì rất sắc, rất mạnh, rất nhanh, cứ như một cú đấm vũ bão nảy đom đóm giáng vào mặt mình. Đến khi có cả tập trong tay thì cái lực gây choáng váng bất ngờ ấy giảm xuống, không nhiều, nhưng cũng khá dịu đi, có thể như đã... quen đòn rồi thì dễ chịu đòn hơn? Đọc Bùi Chát hay Lý Đợi một bài lẻ loi thì thấy nghịch ngợm, vui không chịu được nhưng đọc cả tập thì lại thấy buồn buồn. Có trời mà hiểu được cảm xúc của tôi! Chơi thân với Đỗ Kh. nhưng thích nghe Kh. nói chuyện hơn là đọc thơ chàng. Nếu tình cờ có trong tay hai tập/bài thơ của Phan Huyền Thư và Đỗ Kh. thì tôi sẽ lập tức đọc của Thư trước, Kh. sau. Tôi thấy Thư có cái gì thiếu thốn, khắc khoải, giọng điệu tuy lạnh lùng mà vẫn mang cảm giác bất an, bất toàn, dễ chia sẻ. Kh. thì ngược lại, và nói như lời giới thiêu của talawas, Kh. là người theo chủ nghĩa khoái lạc tự nhiên. Kh. có vẻ hoàn toànkín đáo: hoàn toàn như để thách thức và để chống lại qui luật bất toàn của đất trời; kín đáo vì lúc nào cũng cà rỡn, không chịu nghiêm và buồn với bất cứ chuyện gì (là để che giấu nỗi niềm yếu đuối sâu kín nào của chàng chăng?). Thế nên người đọc là tôi đâm ra ngại, không tin là Kh. tự thú điều gì, nghĩa là... chàng hơi bị khó hiểu. Nói thế không có nghĩa là những người khác dễ hiểu hơn. Với Thận Nhiên và Lynh Bacardi: tôi thích thơ Nhiên vì cái giọng lăn lóc bụi đời và già dặn, vì cách xếp đặt những hình ảnh lộn xộn và chẳng liên quan gì đến nhau như những bức tĩnh vật phi lý (?) còn Lynh, mỗi khi đọc truyện và thơ Lynh tôi thường... đau khổ với những khổ đau mà một cô gái trẻ như Lynh lẽ ra không phải gánh chịu. Đó chỉ là cảm nhận qua văn chương thôi chứ đời tư của các nhà thơ, tôi thường không am hiểu gì mấy! Mà với nhiều người, đời tư đôi khi cũng chẳng ảnh hưởng gì nhiều đến văn chương.

Nguyễn Đức Tùng: Cám ơn chị đã nhắc đến một hiện tượng đáng chú ý. Vài người nói thật với tôi rằng họ chỉ có thì giờ để đọc những bài đăng báo của chính họ. Cùng lắm là đọc những tác giả quen biết riêng với mình. Ngoài ra, cũng có thể quan sát thấy, nhiều nhà thơ ở hải ngoại không đọc trong nước và nhiều nhà thơ trong nước không đọc hải ngoại.

Trong khi đó, theo tôi biết, các nhà thơ, nhà văn nước ngoài cùng thời đọc nhau rất dữ. Và kỹ. Ví dụ, trong một bài phỏng vấn mới đây, nhà thơ nữ nổi tiếng Catherine Hunter, nói như sau (trích từ “In Muddy Water”, Robert Budde):

Robert Budde: Chị vừa nhắc đến những ảnh hưởng của… Findley. Anh ấy chỉ viết tiểu thuyết thì làm sao có thể ảnh hưởng đến chị?

Catherine Hunter: Việc đọc các tác phẩm của Findley dạy tôi rất nhiều về giọng điệu và về thể loại kịch. Findley có có cái kiểu riêng của anh ấy, cần nhiều dũng cảm lắm đấy. Đôi khi như điên khùng. Tôi mê anh ta lắm. Nhiều lúc đọc anh ấy, đến đoạn quái lạ nhất, tôi dừng lại và kêu “ôi trời, khó tin quá”. Nhưng mà vẫn đâu ra đó, mà tại sao lại không chứ? Có một cảm giác tự do bay bổng trong tôi khi đọc Findley và khi tôi nhướng mắt coi anh ta bước đi trên một chân. Tôi nghĩ là tôi học được một chút dũng cảm từ anh ấy.

Thưa chị, hiện tượng vừa nói trên của các nhà thơ Việt Nam có phải là đáng buồn và đáng lo ngại không? Nguyên nhân từ đâu?

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Anh cũng khá khoan dung và rộng rãi khi sử dụng các từ nhà thơ, nhà văn đấy nhe. Trong tình hình in ấn, phát hành và lên mạng dễ dàng như hiện nay, chúng ta có hàng chục nghìn tập thơ đã được in và hàng trăm hàng triệu bài thơ trên net chứ chẳng chơi. Nhưng cũng chẳng đáng lo ngại gì như anh nói. Ai cũng có thể làm thơ, in thơ và có độc giả riêng của họ. Vậy là dân chủ trong thơ chứ. Có thơ của những người làm thơ, viết văn mà chỉ có đủ thì giờ để đọc bài đã đăng báo của chính họ; có văn chương trà dư tửu hậu rảnh rang thì xía vô một chút, có thứ văn chương cua trai cua gái cho/gửi/về chàng này nàng kia...; tất nhiên, cũng có những loại văn chương của những con nghiện như nghiện gái, nghiện rượu, nghiện trà, nghiện thuốc phiện, nghiện trai, nghiện xì ke và như lân thấy pháo, cứ thấy cứ chỗ nào có thơ có zăng là nhào vô ngấu nghiến đọc, đọc để mê liền hoặc... tức hộc máu liền ấy chứ! Trò gì cũng vậy, như hàng hoá trong một xã hội tiêu thụ với đầy đủ giá cả bình dân và cao cấp, như vô vàn chọn lựa của đời sống với nhiều tính cách mở ra trước mắt, không sôi nổi, không chết mê chết mệt, không sống chết vì tình với thơ thì sẽ có thơ ù lì, thơ nhạt nhẽo, thơ ráng gượng, thơ có xác không hồn... Người Huế của mẹ tôi hay nói người răng vác lẻ săng rứa, nghĩa là ta thế nào thì “sản phẩm” của ta thế ấy, và viết mà không đọc cũng chẳng... chết con ma nào nhưng cái người xưa gọi là “công phu hàm dưỡng” thì tất phải có chứ!

© 2006 talawas



[1]Bùi Tín, Tâm tình với tuổi trẻ Việt Nam, Tủ sách Thời sự Việt Nam và Thế giới, 2006, trang 47
[2]Bùi Minh Quốc, “Thư ngỏ gửi các bạn trẻ Việt Nam và hai bạn Mỹ...”, chuyên đề “Chiến tranh nhìn từ nhiều phía”, talawas, ngày 19.8.2005